Các dịch vụ:
* Cung ứng lao động sài gòn: 0981.293.005 - 0969.786.635

Cung ứng lao động sài gòn

Điều 8. Luật áp dụng và giải quyết tranh chấp

8.1. Mọi tranh chấp phát sinh trên cơ sở Hợp đồng này sẽ được giải quyết trước hết bằng thương lượng theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật của hai nước và thông lệ quốc tế.

8.2. Trường hợp tranh chấp không giải quyết được thông qua thương lượng thì sẽ đưa ra Tòa án (11)…………..để giải quyết theo quy định của pháp luật (12)……………..

Điều 9. Thời hạn hiệu lực của hợp đồng

9.1. Hợp đồng này có hiệu lực 03 năm kể từ khi có ý kiến chấp thuận của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.

9.2. Trong thời hạn hiệu lực Hợp đồng, nếu một trong hai bên muốn sửa đổi, bổ sung bất kỳ điều khoản nào thì phải thông báo cho bên kia biết bằng văn bản.

Việc sửa đổi, bổ sung hoặc gia hạn hợp đồng chỉ có giá trị pháp luật khi có sự thỏa thuận của cả hai bên bằng văn bản và được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

9.3. Trong thời hạn hiệu lực Hợp đồng, nếu pháp luật, chính sách hoặc quy định của một hoặc hai nước có thay đổi liên quan đến các nội dung trong hợp đồng, hai bên sẽ sửa đổi, bổ sung bằng văn bản để đảm bảo hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.

9.4. Hợp đồng này được tự động gia hạn với thời hạn hiệu lực mỗi lần gia hạn tiếp theo là 03 năm nếu hai bên không có ý kiến khác theo khoản 2 của Điều này.

9.5. Các Bên có thể chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong các trường hợp sau (13): ………………………………………………………………………

Trong trường hợp bất khả kháng không thể tiếp tục thực hiện Hợp đồng (chiến tranh, thiên tai,…), các bên phải cùng nhau giải quyết những vấn đề còn tồn tại, ưu tiên những vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động, đảm bảo người lao động được hưởng đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp được quy trong hợp đồng này và phù hợp với quy định luật pháp của nước tiếp nhận.

9.6. Trường hợp hợp đồng này bị chấm dứt thì hợp đồng lao động giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động sẽ vẫn còn hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên đều có hiệu lực cho đến khi hợp đồng lao động kết thúc.

Ký quỹ và quản lý tiền ký quỹ

1. Tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết các rủi ro và các khoản phải đền bù có thể xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp.

2. Doanh nghiệp phải nộp tiền ký quỹ là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) tại ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch chính (sau đây viết tắt là ngân hàng).

Cung ứng lao động sài gòn

Dịch vụ Cung ứng lao động tại Sài Gòn giúp cung cấp đầy đủ và kịp thời số lao động có tay nghề cần thiết cho Quý Công Ty có hoạt động sản xuất, kinh doanh đặc thù hay theo thời vụ, giúp Quý Công Ty đỡ mất thời gian và chi phí tuyển dụng, đào tạo. Khi hết nhu cầu lao động Quý Công Ty có thể cắt giảm nhanh chóng số lượng lao động theo hợp đồng cung cấp dịch vụ với doanh nghiệp cho thuê lại lao động mà không bị ràng buộc bởi các quy định của pháp luật lao động.

Doanh nghiệp thực hiện thủ tục nộp tiền ký quỹ theo đúng quy định của ngân hàng và quy định của pháp luật.

Ngân hàng có trách nhiệm xác nhận tiền ký quỹ kinh doanh hoạt động dịch vụ việc làm cho doanh nghiệp.

3. Doanh nghiệp được hưởng lãi suất từ tiền ký quỹ theo thỏa thuận với ngân hàng.

4. Sau khi thực hiện hết các nghĩa vụ tài chính liên quan đến hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp, doanh nghiệp được hoàn trả tiền ký quỹ trong các trường hợp sau:

a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp không được cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép;

b) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm về việc doanh nghiệp nộp lại, bị thu hồi giấy phép.

Tiền ký quỹ được rút trong trường hợp nhận được văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm xác nhận về việc giải quyết rủi ro hoặc các khoản đền bù xảy ra trong quá trình hoạt động dịch vụ việc làm của doanh nghiệp.

Ngân hàng không được cho doanh nghiệp rút tiền ký quỹ khi chưa có ý kiến bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm.

Trong chuỗi đào tạo, huấn luyện thuyền viên, cung ứng thuyền viên Việt Nam đến làm việc trên các tàu đánh cá thuộc sử hữu, quản lý của chủ tàu nước ngoài, có nhiều bên tham gia như: các tổ chức, công ty trong nước, có chức năng xuất khẩu thuyền viên (có thể gọi chung là tổ chức xuất khẩu thuyền viên); chủ tàu hay người khai thác, quản lý, tàu nước ngoài và thuyền viên Việt Nam. Trong chuỗi tạo ra và cung ứng thuyền viên xuất khẩu, về cơ bản gồm ba khối: cơ sở giáo dục, đào tạo hàng hải; trung tâm huấn luyện hàng hải và tổ chức cung ứng thuyền viên xuất khẩu[3].

Trong đó: Cơ sở đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải là cơ sở huấn luyện thuyền viên làm việc trên tàu biển theo các quy định của Công ước STCW, được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện đào tạo, huấn luyện thuyền viên hàng hải theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 29/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải.

Còn tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải là doanh nghiệp được cấp hoạt động trong lĩnh vực tuyển dụng, cung ứng lao động là thuyền viên làm việc trên tàu biển thông qua hình thức cho thuê hoặc cho thuê lại hoặc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật[4].

Theo quy định hiện hành, một tổ chức Việt Nam được cấp phép đưa thuyền viên đi làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài (xuất khẩu lao động) thì họ phải ký hai hợp đồng: (i)Hợp đồng thứ nhất là hợp đồng với bên đối tác nước ngoài, gọi là hợp đồng cung ứng lao động và tranh chấp giữa bên cung ứng của Việt Nam với bên nước ngoài sẽ giải quyết căn cứ theo hợp đồng này. Hợp đồng cung ứng lao động là sự thoả thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp của Việt Nam với bên nước ngoài về điều kiện, nghĩa vụ của các bên trong việc cung ứng và tiếp nhận người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Có thể hiểu là bên cung ứng của Việt Nam sẽ cung cấp số lượng, chất lượng lao động cho đối tác nước ngoài theo hợp đồng đã ký và hợp đồng này phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. (ii)Hợp đồng thứ hai là hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, được ký kết với thuyền viên Việt Nam. Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp với người lao động về quyền, nghĩa vụ của các bên trong việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Cung ứng lao động sài gòn

 1.2.Hình thức cung ứng lao động thuyền viên

Pháp luật nhiều nước trên thế giới và pháp luật Việt Nam đều ghi nhận sự tồn tại song hành hai hình thức quản lý thuyền viên, thứ nhất, chủ tàu quản lý trực tiếp thuyền viên làm việc cho đội tàu của mình, tuy nhiên hình thức thứ hai phổ biến hơn, đó là chủ tàu chỉ quản lý con tàu, còn thuyền viên được quản lý bởi tổ chức cung ứng thuyền viên. Chính vì vậy, chủ tàu hoặc người khai thác hay người quản lý tàu nước ngoài có thể thuê thuyền viên làm việc cho đội tàu của họ dưới hai hình thức đó là: ký hợp đồng trực tiếp với thuyền viên hoặc thuê thuyền viên thông qua việc ký hợp đồng với các công ty cung ứng thuyền viên. Thực tế hiện nay, hầu hết thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài thông qua hình thức cung ứng lao động, trường hợp thuyền viên có thể tự ký hợp đồng lao động trực tiếp với chủ tàu nước ngoài là rất hiếm[5].

 1.3.Quản lý nhà nước trong hoạt động cung ứng lao động thuyền viên

Hiện nay, hoạt động cung ứng lao động thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài giữa doanh nghiệp trong nước với nước ngoài được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật lao động chung và một số văn bản hướng dẫn của Chính phủ như: Bộ luật Lao động năm 2012; Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006; Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015; Nghị định số 29/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải;

Nghị định số 147/2018/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng hải. Đồng thời, hoạt động cung ứng này cũng phải tuân thủ các cam kết trong Công ước Lao động Hàng hải 2006 (MLC) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức có hiệu lực từ ngày 20/8/2013. Từ góc độ pháp luật, thuyền viên làm việc trên tàu cá ngoài có thể cùng một lúc nhận sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật như: pháp luật của nước mà tàu mang cờ, pháp luật của nước mà thuyền viên mang quốc tịch, pháp luật của nước có cảng mà tàu cá đến hoạt động.

Nhìn chung, hoạt động của chuỗi cung ứng thuyền viên không phải lúc nào cũng diễn ra tốt đẹp, thuận lợi, mà có thể phát sinh những bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên dẫn đến xung đột, biểu dưới dạng các tranh chấp về nghĩa vụ cũng như quyền lợi.

Có những tranh chấp ảnh hưởng rất lớn đến thuyền viên và gia đình của họ, tác động xấu đến hoạt động kinh doanh của tổ chức xuất khẩu thuyền viên, gây bất ổn đối với trật tự an ninh xã hội. Lường hết được những tranh chấp có thể xảy ra giữa các bên trong hoạt động xuất khẩu thuyền viên, qua đó đưa ra những giải pháp hạn chế được các tranh chấp, trong đó có việc hạn chế những tranh chấp phát sinh giữa các công ty xuất khẩu thuyền viên trong nước với thuyền viên Việt Nam, với mục đích bảo vệ quyền lợi không những của thuyền viên, mà còn bảo vệ quyền lợi của chính các tổ chức xuất khẩu thuyền viên cũng như quyền lợi của chủ tàu hay người khai thác, quản lý tàu nước ngoài, làm lành mạnh hóa và chuyên nghiệp hóa lĩnh vực xuất khẩu thuyền viên của Việt Nam, góp phần ngày càng phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu Việt Nam bền vững là rất cần thiết.

 2.Một số hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cung ứng lao động là thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài

Trong hoạt động cung ứng thuyên viên luôn tồn tại một bên chủ thể là người nước ngoài, cụ thể là người sử dụng lao động (chủ tàu hoặc người khai thác tàu) thông qua tổ chức cung ứng thuyền viên của Việt Nam để thuê thuyền viên Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá mang quốc tịch nước ngoài nên các bên phải đối mặt với nhiều rào cản về văn hóa, ngôn ngữ, tính chất công việc.

Cung ứng lao động sài gòn

Trong quan hệ lao động này, thuyền viên Việt Nam thường là chủ thể yếu thế hơn nên phải đối mặt với nhiều nguy cơ như bị lạm dụng sức lao động, làm việc trong các điều kiện không đảm bảo an toàn tiêu chuẩn chung, bị người sử dụng lao động đối xử về chế độ tiền lương và các điều kiện sinh hoạt không bảo đảm theo các yêu cầu của luật pháp quốc tế, cũng như các khó khăn khi hệ thống pháp luật của quốc gia mà thuyền viên mang quốc tịch chưa đủ mạnh để bảo vệ họ trước khi ký hợp đồng lao động.

Bên cạnh đó, khác biệt với những quan hệ lao động thông thường, thuyền viên là nghề đặc thù đòi hỏi phải có kiến thức và tay nghề cao, cường độ lao động vất vả, chịu ảnh hưởng của môi trường khắc nghiệt, rủi ro giữa muôn trùng sóng gió; các con tàu lênh đênh trên biển còn là đối tượng luôn bị rình rập bởi cướp biển và những tai nạn bất ngờ.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có đường lối chính sách về chiến lược phát triển nguồn nhân lực thuyền viên nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc triển khai cụ thể hóa những chủ trương đường lối chính sách đó thành các văn bản dưới luật nhằm tạo động lực cho phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu; cũng như chưa có mục tiêu cho công tác xuất khẩu thuyền viên ở cấp quản lý nhà nước đến các cơ sở đào tạo và huấn luyện hàng hải.

 2.1.Hạn chế trong quy định về trách nhiệm của tổ chức cung ứng lao động là thuyền viên.

Các tổ chức cung ứng thuyền viên ở nước ta hiện nay về cơ bản được phân loại thành hai nhóm chính: (i)Nhóm thứ nhất, bao gồm các doanh nghiệp quy mô, có kinh nghiệm trong công tác xuất khẩu thuyền viên; hay những doanh nghiệp mới thành lập, nhưng khá chuyên nghiệp và có đối tác là những chủ tàu hoặc người quản lý hay khai thác tàu lớn, uy tín, tại các nước tiên tiến, có ngành hàng hải phát triển. (ii)Nhóm thứ hai, là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, có năng lực và tiềm lực hạn chế, với tư tưởng làm ăn ngắn hạn, ít có sự đầu tư, chủ yếu đi gom nhặt cả thuyền viên và đối tác chủ tàu nước ngoài.

Các tổ chức này chỉ được hoạt động khi được cấp “Giấy xác nhận phù hợp về tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hàng hải” (gọi chung là giấy xác nhận) – văn bản do Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cấp cho tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải để xác nhận sự phù hợp về tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hàng hải theo quy định của MLC[6].

Có thể nhận định, trong quan hệ lao động này, vai trò của các tổ chức cung ứng thuyền viên là rất quan trọng, là cầu nối giữa thuyền viên và tổ chức có nhu cầu sử dụng lao động thuyền viên, là trung gian để đưa thuyền viên đi làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài. Trên thực tế đã có nhiều doanh nghiệp cung ứng thuyền viên, nhất là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, chỉ chú trọng đến lợi nhuận nhỏ trước mắt, mà chưa có định hướng lâu dài, thiếu trách nhiệm với thuyền viên.

Chính điều này là nguyên nhân phát sinh nhiều tranh chấp và gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng chỉ mới dừng lại ở quy định về giấy xác nhận, các trường hợp và thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi giấy xác nhận chứ chưa hề có quy định chi tiết về trách nhiệm của tổ chức cung ứng thuyền viên. Ngoài ra cũng chưa có các quy định trong quản lý nhằm tạo ra tính liên kết giữ các bên liên quan đến chuỗi hoạt động xuất khẩu thuyền viên, bao gồm cơ sở đào tạo hàng hải, các trung tâm huấn luyện thuyền viên và các doanh nghiệp xuất khẩu thuyền viên để các bên có thể tìm được tiếng nói chung và phát huy tối đa vai trò của mình.

2.2.Hạn chế trong quy định về kiểm soát tiêu chuẩn, chất lượng thuyền viên được xuất khẩu.

Chất lượng nguồn năng lực thuyền viên xuất khẩu ảnh hưởng rất lớn đến thị phần và năng lực cạnh tranh trên thị trường thuyền viên quốc tế. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, chất lượng thuyền viên xuất khẩu của Việt Nam là không đồng đều, tùy thuộc vào cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải, tinh thần, thái độ đối với nghề nghiệp, trình độ chuyên môn và sự phân công vị trí, cũng như đội tàu mà thuyền viên làm việc[7]. Bất cứ quốc gia nào, nếu thuyền viên không được đào tạo theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ và trực ca cho thuyền viên năm 1978 sửa đổi năm 2010 (STCWW78/2010) thì thuyền viên cũng như những con tàu mang cờ của quốc gia đó phải qua sự kiểm soát ngặt nghèo của các quốc gia tham gia Công ước mới được chấp nhận hoạt động tại quốc gia của họ[8]. Mặc dù thuyền viên Việt Nam đã được tào tạo, huấn luyện và cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn của Công ước này nhưng thực tế vẫn còn nhiều hạn chế.


Du lịch châu âu Bạn có thể book được vé máy bay giá rẻ nhất, sau đó bán cho, Đến với Sài Gòn Bay, bạn sẽ được tư vấn kĩ lượng, được chăm sóc kĩ, được ưu tiên hàng đầu việc xử lý các vé khó, vé đoàn cũng như ưu đãi về
Tour du lịch phú quốc App vé máy bay giá rẻ khuyến mãi, luôn bên bạn khi cần, Chi phí vé máy bay sẽ chiếm một phần trong chuyến đi của bạn (bao gồm cả chiều đi và chiều về). Đừng chần chờ ham rẻ mà bỏ qua những mức giá tốt từ
© 2007 - 2021 https://dulich.congtythietkenha.com
- Phone: +84-908-744-256